GọiĐặt hẹn

3 xét nghiệm cần thiết đối với bệnh nhân tiểu đường

3 xét nghiệm cần thiết đối với bệnh nhân tiểu đường là: xét nghiệm định lượng HbA1C, định lượng Fructosamin, định lượng Microalbumin niệu. Những xét nghiệm này giúp đánh giá hiệu quả của việc điều trị cũng như phát hiện sớm những biến chứng xảy ra.

xét nghiem tieu duong xet nghiem duong huyet xet nghiem hba1c
Lượng HbA1c sẽ phản ánh lượng đường trong máu của bệnh nhân trong khoảng 2-3 tháng trở lại đây.

Nếu không được điều trị và kiểm soát lượng đường máu tốt, bệnh tiểu đường gây ra rất nhiều biến chứng. Để đánh giá hiệu quả của việc điều trị cũng như phát hiện sớm những biến chứng xảy ra, bệnh nhân tiêu đường cần làm 3 xét nghiệm cơ bản sau:

Định lượng HbA1c

Hb là Hemoglobin (huyết sắc tố) trong hồng cầu. Hb bao gồm HbA, HbA2 và HbF, trong đó HbA chiếm chủ yếu (95-97%). Một lượng nhỏ HbA sẽ kết hợp với các loại đường (carbonhydrat) trong máu (bị glycosyl hóa) để tạo thành HbA1.

HbA1 bình thường trong máu khoảng 5-7%, HbA1 lại gồm HbA1a, HbA1b và HbA1c. Trong đó HbA1c là do HbA gắn với glucose chiếm khoảng 75-80% lượng HbA1 (do đường glucose là nhiều nhất trong máu) tương đương 4-6%.

Khi lượng đường máu tăng lên trong thời gian đủ dài sẽ làm tăng lượng HbA1c. Do vậy khi lượng HbA1c tăng lên đồng nghĩa lượng đường trong máu của bệnh nhân đã tăng kéo dài trong thời gian vừa qua.

Mặt khác, đời sống của hồng cầu là 120 ngày, vì vậy lượng HbA1c sẽ phản ánh lượng đường trong máu của bệnh nhân trong khoảng 2-3 tháng trở lại đây. Đây là xét nghiệm rất hữu ích cho việc theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường. Xét nghiệm nên được làm ít nhất 3 tháng 1 lần.

Giá trị bình thường của xét nghiệm là 4-6%. Được coi là tăng khi lượng HbA1c > 6,5%. Nếu duy trì được lượng HbA1c <6% thì sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm biến chứng do bệnh gây ra. Người ta đã ghi nhận được mối tương quan của lượng HbA1c và glucose là cứ 1% HbA1c tăng sẽ tương đương với lượng glucose máu tăng khoảng 1,7 mmol/L (30mg/dL). Ví dụ 4% HbA1c tương đương với 3,3 mmol/L glucose, 5% HbA1c tương đương với 5,0 mmol/L glucose, 6% HbA1c tương đương với 6,7 mmol/L glucose…

Có nhiều phương pháp để định lượng HbA1c như phương pháp độ đục (đo quang), sắc ký lỏng cao áp, sắc ký trao đổi ion, điện di… nhưng 2 phương pháp phổ biến nhất vẫn là phương pháp đo độ đục (được thực hiện trên các máy sinh hóa tự động) và sắc ký lỏng cao áp (trên các hệ thống HPLC). Trong đó phương pháp trên HPLC là chính xác nhất. Phương pháp HPLC được thực hiện theo nguyên lý: Mẫu được pha động (dung môi hữu cơ) dẫn qua cột sắc ký chứa pha tĩnh dưới áp suất cao. Tùy thuộc vào ái lực của chất phân tích với pha tĩnh mà thời gian lưu lại khác nhau. Kết quả được xác định bằng thời gian lưu (thời gian từ khi bơm mẫu vào đến khi chất phân tích ra khỏi cột pha tĩnh) và diện tích của pick tạo ra. Mỗi chất khác nhau sẽ có thời gian lưu khác nhau và nồng độ khác nhau thì sẽ tạo ra pick có diện tích khác nhau. Với kỹ thuật này sẽ tách riêng được từng loại HbA ra và định lượng được nồng độ của chúng một cách chính xác nhất.

Phương pháp độ đục được thực hiện trên các máy sinh hóa tự động. Đấu tiên dùng một hóa chất để phá vỡ hồng cầu giải phóng HbA1c. Sau khi phản ứng với hóa chất, máy sẽ đo riêng rẽ 2 phần là Hb và A1c. Từ kết quả đo được máy sẽ tính tỉ lệ A1c trên Hb từ đó tính được nồng độ HbA1c.

Định lượng Fructosamin.

Fructosamin là sản phẩm tạo thành do phản ứng glycosyl hóa giữa glucose và các protein trong huyết thanh. Lượng albumin trong máu chiếm tỉ lệ khá lớn nên lượng fructosamin thường là albumin gắn glucose. Do thời gian bán hủy của albumin là 2-3 tuần nên lượng fructosamin được dùng để đánh giá gián tiếp lượng glucose trong máu ở 2-3 tuần trước đó.

Nồng độ fructosamin bình thường trong máu khoảng 2,0 – 2,8 mmol/L

Fructosamin tăng lên ở bệnh nhân đái tháo đường và dựa vào đó để đánh giá tình trạng đường huyết của bệnh nhân ở 2-3 tuần trước đó. Xét nghiệm sẽ ổn định và chính xác hơn định lượng đường máu, do lượng đường máu bị giao động và thay đổi trong thời gian ngắn (bệnh nhân ăn nhiều hoặc ăn ít, đã dùng thuốc hoặc chưa dùng thuốc…).

Việc định lượng Fructosamin cũng khá đơn giản dựa trên nguyên lý của phương pháp đo quang bằng phép đo điểm cuối. Xét nghiệm có thể thực hiện trên các hệ thống máy sinh hóa tự động hoặc bán tự động.

Như vậy 2 xét nghiệm trên đây sẽ giúp đánh giá tổng quát và chính xác được lượng đường trong máu của bệnh nhân ở 2-3 tháng gần đây (HbA1c) hoặc 2-3 tuần gần đây (Fructosamin). Tiếp theo mình sẽ trình bày về xét nghiệm để phát hiện sớm biến chứng của tiểu đường mà cụ thể là biến chứng ở thận đó là xét nghiệm Microalbumin niệu.

Định lượng Microalbumin niệu

Microalbumin niệu (MAU – Microalbumin in urine) chính là Albumin bài xuất trong nước tiểu. Nhưng do lượng albumin trong nước tiểu rất ít nên gọi là microalbumin. Bình thường albumin được lọc qua cầu thận và được tái hấp thu gần như hoàn toàn ở ống thận (<20mg/24h) và không phát hiện được bằng các xét nghiệm thông thường. Ở bệnh nhân đái tháo đường không được kiểm soát tốt gây biến chứng ở thận, và dấu hiệu đầu tiên là xuất hiện albumin trong nước tiểu (>30mg/24h). Như vậy khi xuất hiện microalbumin trong nước tiểu là dấu hiệu sớm cho phép chẩn đoán biến chứng thận. Microalbumin niệu xuất hiện sớm trước khi protein niệu xuất hiện (giai đoạn sau). Khi nồng độ Microalbumin niệu > 300mg/24 đã được coi là Albumin niệu lâm sàng và lúc này có thể phát hiện được bằng xét nghiệm nước tiểu thông thường.

Microalbumin niệu được định lượng dựa trên nguyên lý của phản ứng miễn dịch độ đục. Microalbumin niệu sẽ phản ứng với kháng thể kháng Microalbumin niệu tạo hợp chất không tan làm đục môi trường. Mật độ quang của độ đục tỉ lệ thuận với nồng độ Microalbumin niệu.

Hiện có 2 cách để xác định nồng độ Microalbumin bài xuất ra nước tiểu đó là định lượng bằng nước tiểu 24 giờ và định lượng bằng nước tiểu lấy ngẫu nhiên.

Tốt nhất và chính xác nhất là định lượng bằng nước tiểu 24h. Buổi sáng cho bệnh nhân đi tiểu hết. Sau đó ghi thời gian lại, trong vòng 24h tiếp theo bệnh nhân sẽ đi tiểu vào 1 cái bô sạch có ghi được lượng nước tiểu. Sau 24h ghi tổng lượng nước tiểu thu được, lắc đều và gửi khoảng 10ml nước tiểu đến phòng xét nghiệm. Tại phòng xét nghiệm sẽ định lượng nồng độ microalbumin sau đó tính lượng microalbumin trong cả 24h.

Do cách lấy nước tiểu 24h phức tạp và mất thời gian nên hiện nay người ta có thể định lượng bằng nước tiểu bất kỳ. Tuy nhiên do lượng albuim bài xuất ra nước tiểu luôn luôn thay đổi ở các thời điểm trong ngày nên người ta phải dùng thêm chỉ số creatinin niệu. Creatinin được bài xuất ra ngoài nước tiểu với một tốc độ và nồng độ không đổi. Do vậy người ta sẽ căn cứ vào tỉ lệ microalbumin/ creatinin niệu (ACR) để đánh giá. Bình thường tỉ lệ Microalbumin niệu/ creatinin niệu < 30 mg/g. Khi tỉ lệ này > 30 mg/g đồng nghĩa là Microalbumin niệu > 30mg/24h.

Trên đây mình đã trình bày 3 xét nghiệm cơ bản dùng để theo dõi bệnh nhân đái tháo đường nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của việc điều trị cũng như chẩn đoán sớm biến chứng do đái tháo đường gây ra. Mọi ý kiến đóng góp vui lòng phản hồi tại đây. Nếu bạn thấy bài viết bổ ích hãy chia sẻ với mọi người. Đề nghị ghi rõ nguồn tuyenlab.com khi đăng tải lại nội dung bài viết này.

Lời kết

Việc kiểm soát lượng đường máu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thuốc điều trị, đáp ứng của bệnh nhân, đặc biệt là việc tuân thủ phác đồ điều trị cũng như chế độ ăn uống, kiêng khem hay chế độ luyện tập của bệnh nhân… Việc không tuân thủ tốt phác đồ điều trị làm cho đường máu không những giảm mà còn tiếp tục tăng lên và gây ra những biến chứng rất nặng. Do đó, người bệnh cần tuân thủ tốt chế độ điều trị, chế độ ăn uống, sinh hoạt và thực hiện xét nghiệm định kỳ để theo dõi đánh giá kết quả điều trị.

Nguồn: theo Tuyenlab.

Bình luận

Scroll to Top