GọiĐặt hẹn
Trang chủ » Kiến thức chăm sóc sức khỏe » Kiến thức về chăm sóc vết thương » Nguyên tắc hút đờm dãi qua ống nội khí quản và cách thực hiện

Nguyên tắc hút đờm dãi qua ống nội khí quản và cách thực hiện

Hút đờm dãi qua ống nội khí quản cần tuân thủ đúng quy trình, nguyên tắc để đảm bảo người bệnh không bị nhiễm trùng đường hô hấp (viêm phổi, viêm thanh quản). Trong bài viết này, ASIA Health sẽ chia sẻ cùng Quý bạn đọc những kiến thức cần biết trong việc hút đờm dãi qua ống nội khí quản.

1. Tại sao phải hút đờm nhớt cho người đặt ống nội khí quản?

Ở người bình thường, không khí trước khi vào phổi thường được làm ấm, làm ẩm, làm sạch khi đi qua vùng mũi miệng. Khi bệnh nhân được đặt ống mở khí quản, cơ chế này bị bỏ qua, nên không khí vào phổi sẽ trở nên lạnh, khô, và “bẩn” hơn. Điều này kích thích tiết nhiều đờm nhớt để giữ lại chất dơ không đi vào phổi. Tuy nhiên, quá nhiều đờm nhớt tích tụ sẽ dễ bị nhiễm khuẩn, từ đó dễ gây nhiễm trùng đường hô hấp ví dụ viêm phổi, viêm thanh khí phế quản. Do vậy việc hút đờm nhớt là rất quan trọng. Tuy nhiên cũng nên tránh hút đờm nhớt quá thường xuyên, khi không cần thiết vì việc này sẽ gây tổn thương vùng khí quản, và thậm chí còn kích thích đờm nhớt tiết ra thường xuyên hơn.

2. Mũi nhân tạo là gì?

“Mũi nhân tạo” là một bộ phận có thể lắp vào ống mở khí quản giúp giữ độ ẩm không khí hít vào, ngăn chặn các hạt rơi vào đường thở.

Mũi nhân tạo dùng cho bệnh nhân mở khí quản ASIA Health
Mũi nhân tạo dùng cho bệnh nhân mở khí quản.

3. Khi nào cần hút đờm dãi?

  • Bất cứ khi nào cảm thấy hay nghe thấy tiếng của đờm nhớt trong đường thở.
  • Vào buổi sáng khi vừa thức dậy.
  • Khi bệnh nhân khó thở (thở gắng sức, thở nhanh).
  • Trước bữa ăn.
  • Sau khi đi ra ngoài trời.
  • Trước khi đi ngủ.

Chú ý:

  • Thông thường các chất đàm tiết có màu trắng trong. Khi chất tiết đổi màu (vd màu vàng, nâu, hoặc xanh lá cây) có thể là một dấu hiệu của nhiễm trùng đường hô hấp. Khi đó bạn cần phải đi khám bác sĩ.
  • Khi chất tiết có máu (màu hồng nhạt hay màu đỏ), cần tăng độ ẩm khí hít vào và phải hút đàm nhẹ nhàng hơn.

4. Quy trình hút đờm nhớt

4.1. Dụng cụ:

4.2. Cách thực hiện:

  1. Rửa tay.
  2. Bật máy hút và kết nối ống nối vào máy.
  3. Chọn ống hút đàm.
  4. Gắn ống hút đàm vào ống nối.
  5. Đặt bệnh nhân nằm ngửa với một chiếc khăn dưới vai. Một số bệnh nhân thích ngồi, điều này cũng có thể chấp nhận được.
  6. Nhúng ống hút đàm vào nước muối hay nước vô khuẩn để làm ẩm. Cho hút thử để kiểm tra hê thống.
  7. Rút nòng trong (nếu có). Đặt nòng trong vào dụng cụ chứa đã chuẩn bị sẵn.
  8. Một cách cẩn thận đưa ống hút đàm vào ống mở khí quản sao cho ống đi theo đường cong của ống mở khí quản. Một cách ngắt quãng đặt ngón tay cái vào lỗ thông hơi của ống hút đàm trong khi dần dần rút ống hút đàm ra. Chú ý không để ống hút đàm trong ống mở khí quản quá 10 giây vì trong lúc hút đàm bệnh nhân không thở được.
  9. Quan sát bệnh nhân sau khi hút đàm, xem bệnh nhân có thở lại không. Chờ khoản 10 giây.
  10. Hút một lượng nhỏ nước cất hay nước vô trùng để làm sạch các chất tiết trong ống hút đàm.
  11. Đặt nòng trong vào ống mở khí quản.
  12. Tắt máy, lấy ống hút đàm ra.
kỹ thuật hút đàm nhớt hút đàm nhớt hut dam nhot hut dam dai ASIA Health
Hình ảnh minh họa các bước thực hiện hút đờm dãi qua ống nội khí quản.

Chú ý:

  • Cách sử dụng lại ống hút đàm: hút liên tục nước cất hay nước vô trùng trong khoảng 30 giây để loại bỏ chất tiết bên trong. Rửa ống hút bằng dòng nước chảy vài phút. Ngâm ống vào dung dịch sát khuẩn (vd ngâm trong dung dịch một phần dấm với một phần nước cất hay nước vô trùng trong 15 phút). Rửa lại ống hút bằng nước lạnh và để khô. Để khô ống hút đàm. Không sử dụng ống hút khi nó bị cứng hoặc nứt.
  • Có nhiều loại nòng trong khác nhau, cho nên cần phải biết cách lấy hoặc lắp nòng trong tuỳ theo từng loại. Thông thường là xoay nòng trong theo một hướng nhất định rồi lấy ra. Lắp vào thì theo chiều ngược lại.
  • Tránh trường hợp rút luôn toàn bộ ống mở khí quản khi lấy nòng trong ra. Thường khi rút nòng trong ra, nên đặt một tay vào miếng cố định ở cổ của ống mở khí quản.
  • Để hạn chế tổn thương, độ dài ống hút đàm đưa vào phải tương đương với chiều dài ống mở khí quản. Ví dụ nếu chiều dài ống mở khí quản là 4cm thì ta chỉ cần đưa ống hút đàm vào một đoạn khoảng 4 cm. Một số trường hợp chưa làm sạch hoàn toàn đờm nhớt của bệnh nhân, khi đó, có thể cho ống hút đàm vào sâu thêm vài milimet xa hơn đầu cuối ống mở khí quản. Nếu có kinh nghiệm, ta có thể ước lượng chiều dài ống hút đàm đưa vào mà không cần phải đo.
  • Cần phải làm sạch nòng trong nếu có đờm nhớt dính vào. Có thể dùng bàn chải đặc biệt để rửa nòng trong. Trong trường hợp ta có thêm một bộ mở khí quản phụ, ta có thể dùng nòng trong của nó. Nòng vừa lấy ra (nếu còn dùng được) có thể rửa sạch và ngâm trong dung dịch sát khuẩn, sau đó để khô để sử dụng lại.

5. Lời kết

  • Hút đờm nhớt cho bệnh nhân mở khí quản là kỹ thuật khó, có thể có biến chứng, do đó nếu tự thực hiện tại nhà, người nhà bệnh nhân cần tuân thủ theo đúng hướng dẫn của bác sĩ và tuân thủ theo các nguyên tắc đã đề cập ở trên.
  • Bên cạnh đó, bệnh nhân có ống mở khí quản cũng cần được chăm sóc một cách toàn diện, bao gồm rất nhiều khía cạnh như điều trị bệnh nền của bệnh nhân, dinh dưỡng, chống loét do tì đè, thay băng, vật lý trị liệu, tâm lý trị liệu…

Nguồn: Theo BS. Hoàng Tiến Minh

Bình luận

Scroll to Top